Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

Mong muốn cuối cùng của Hirohito về một nền ngoại giao


       «Bảo vệ hiến pháp Minh Trị», một mong muốn khác của Thiên hoàng, cho thấy Hirohito hiểu rõ tác dụng phi thường của hiến pháp 1889, một văn bản không hướng dẫn việc thực thi quyền lực cũng không bảo vệ quyền tự do hạn chế của các thẳn dân Nhật Bản. Tại sao ông phải thay đổi hiến pháp trong khi nó có thể tạo ra một cách hợp pháp, «hợp hiến» hầu như bất kỳ hình thức cai trị nào mà ông và những kẻ cầm quyền muốn.

Mong muốn cuối cùng của Hirohito về một nền ngoại giao

      Mong muốn cuối cùng của Hirohito về một nền ngoại giao dựa trên «Hoà bình quốc tế» không phải là sự khẳng định hệ thống Hiệp ước Washington mà muốn nói đến thực trạng mới thời hậu Mãn Châu quốc, lãnh thổ thành lập bằng sự xâm lược. Mặc dù «Đế chế» vừa thôn tính được thêm lãnh địa mới nhưng về kinh tế nước Nhật vẫn phải phụ thuộc vào những kẻ luôn chi trích và đối nghịch với nó, các cường quốc Anh-Mỹ. Trong hoàn cảnh này, rõ ràng Hirohito không muốn gây xích mích với Anh và Mỹ. Vì vậy, sự hợp nhất Mãn Châu quốc phải được tiến hành một cách mạnh mẽ trong «hoà bình».
       Mười ngày sau khi Inukai bị ám sát, Hirohito trao chức thủ tướng cho vị Đô đốc già Saito. Nội các «thống nhất dân tộc» do Saito thành lập giờ đây gồm Uchida làm bộ trưởng ngoại giao, Takahashi làm bộ trưởng tài chính, lãnh tụ của nhóm quan lại cách tân Goto Fumio, làm bộ trưởng nông nghiệp, Tướng Araki làm Bộ trưởng Lục quân và Đô đốc Okada Keisuke làm bộ trưởng Hải quân.
       Nội các này trải qua nhiều sóng gió qua bốn khóa Nghị viện với nhiều thay đổi trong các vị trí nội các trong khoảng thời gian hơn hai năm và cuối cùng tan rã vào năm 1934 trong  một vụ bê bối tham nhũng liên quan đến Công ty Tơ nhân tạo Teijin. Trong thời gian này, Saito là người chi đạo công cuộc xây dựng Mãn Châu quốc, sự kiện Nhật rút lui khỏi Hội Quốc Liên và việc cơ cấu lại một phẳn bộ máy chính phủ.
        Ngay lập tức, Saito bắt tay vào chuẩn bị công nhận Mãn Châu quốc. Việc này sẽ vi phạm các hiệp ước và đặt những mối quan hệ đã có với Mỹ trước nguy cơ. Cả Hội Quốc Liên, luật pháp quốc tế và phương Tây bắt đầu hứng chịu sự công kích ồ ạt từ các chính trị gia, báo giới, sĩ quan quân đội và giới trí thức Nhật. Các nghị quyết của Hội Quốc Liên về cuộc xung đột Trung – Nhật được so sánh với vụ Can thiệp tay ba 1895 buộc chính phủ Minh Trị phải từ bỏ bán đảo Liêu Đông. 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét