Hirohito học luật quốc tế từ Tachi Sakutaro và ông biết rằng Nhật đã ký kết (nhưng không thông qua) công ước Geneva năm 1929 về Hiệp ước Tù binh chiến tranh, ông cũng đã đọc điều khoản kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế trong chiếu thư của ông và cha mình. Nhưng ông không hề ban ra mệnh lệnh nào cho lực lượng vũ trang của mình nhằm mục đích ngăn ngừa thảm sát hay ngược đãi tù nhân Trung Quốc. Sự bỏ sót này phản ánh một khuynh hướng lan tràn trong nhiều người thuộc giới quan liêu, trí thức và cánh hữu ở Nhật trong những năm 1930 khi coi luật pháp quốc tế chi đơn thuần là sự bịa đặt của phương Tây. Đối với họ, quy định của luật pháp quốc tế là thứ mà kể từ cuối Chiến tranh Thế giới I, Anh và Mỹ đã muốn soạn thảo và phổ biến vì những luật lệ đó chi phục vụ mục đích của họ chứ không phải của Nhật Bản.
Đối với nhiều người Mỹ, châu Âu và châu Á, yếu tố từ những hành động chiến tranh của Nhật Bản hơn bất cứ điều gì khác đã tạo nên một kiểu mẫu người Nhật vô lương tâm, tàn bạo, một kiểu mẫu chưa bao giờ hoàn toàn bị lãng quên hay tha thứ, đó là sự tàn ác và ngược đãi đối với tù binh chiến tranh.2 Đằng sau sự tàn ác đó chính là sự khước từ áp dụng luật pháp quốc tế ở Trung Quốc vì điều đó xoá bỏ sự dính dáng trách nhiệm của Hirohito. Chi mình ông được tự do hành động trong vấn đề này và cần phải hành động nhưng đã không hành động. Nếu ông can thiệp và cương quyết đòi hỏi phải thiết lập luật lệ hay thậm chí là một tổ chức để xử lý tù binh chiến tranh thì kết quả hẳn đã khác.
Hirohito phải gánh trách nhiệm trực tiếp đối với việc sử dụng khí độc, một vũ khí gây ra cái chết của nhĩều binh lính cũng như thường dân Trung Quốc và Mông Cổ. Trước khi sự kiện Trung Quốc biến thành một cuộc chiến tranh toàn diện, ông đã chuẩn tấu việc điều động đến Trung Quốc nhân lực và thiết bị để tiến hành chiến tranh hóa học. Điều 171 Hiệp ước hòa bình Versailles và các thỏa thuận quốc tế khác mà Nhật Bản ký kết sau Chiến tranh Thế giới I cẩm sửđụng hơi độc, kể cả hơi cay. Nhưng quân đội Nhật đã sẵn sàng vi phạm lệnh cấm này khi đối mặt với một đối phương thấp kém hơn về mặt công nghệ. Và rõ ràng là cả Hirohito cũng vậy. Chỉ thị dâu tiên của ông cho phép sử dụng vũ khí hóa học được ban hành ngày 28 tháng 7 năm 1937 và được Tổng tham mưu trưởng Lục quân, Hoàng thân Kan’in truyền đi. Trong đó có nói bằng cách chi viện cho khu vụt Bâc Kinh – Thiên Tân, các khanh có thể sử dụng hơi cay trong thời điểm thích hợp. Một thánh chi thứ hai, ban ra ngày 11 tháng 9 năm 1937 và cũng được truyền đạt qua Hoàng thân Kan’in, cho phép triển khai tới Thượng Hải một số đơn vị chiến tranh hóa học đặc biệt. Các mệnh lệnh này đã cho phép ngay từ đâu, ban đâu chi là những thử nghiệm trên quy mô rất nhỏ nhưng cho đến mùa xuân và hè năm 1938 đã là việc sử dụng tràn lan khí độc trên các chiến trường chính ở Trung Quốc và Mông Cổ.
Đối với nhiều người Mỹ, châu Âu và châu Á, yếu tố từ những hành động chiến tranh của Nhật Bản hơn bất cứ điều gì khác đã tạo nên một kiểu mẫu người Nhật vô lương tâm, tàn bạo, một kiểu mẫu chưa bao giờ hoàn toàn bị lãng quên hay tha thứ, đó là sự tàn ác và ngược đãi đối với tù binh chiến tranh.2 Đằng sau sự tàn ác đó chính là sự khước từ áp dụng luật pháp quốc tế ở Trung Quốc vì điều đó xoá bỏ sự dính dáng trách nhiệm của Hirohito. Chi mình ông được tự do hành động trong vấn đề này và cần phải hành động nhưng đã không hành động. Nếu ông can thiệp và cương quyết đòi hỏi phải thiết lập luật lệ hay thậm chí là một tổ chức để xử lý tù binh chiến tranh thì kết quả hẳn đã khác.
Hirohito phải gánh trách nhiệm trực tiếp đối với việc sử dụng khí độc, một vũ khí gây ra cái chết của nhĩều binh lính cũng như thường dân Trung Quốc và Mông Cổ. Trước khi sự kiện Trung Quốc biến thành một cuộc chiến tranh toàn diện, ông đã chuẩn tấu việc điều động đến Trung Quốc nhân lực và thiết bị để tiến hành chiến tranh hóa học. Điều 171 Hiệp ước hòa bình Versailles và các thỏa thuận quốc tế khác mà Nhật Bản ký kết sau Chiến tranh Thế giới I cẩm sửđụng hơi độc, kể cả hơi cay. Nhưng quân đội Nhật đã sẵn sàng vi phạm lệnh cấm này khi đối mặt với một đối phương thấp kém hơn về mặt công nghệ. Và rõ ràng là cả Hirohito cũng vậy. Chỉ thị dâu tiên của ông cho phép sử dụng vũ khí hóa học được ban hành ngày 28 tháng 7 năm 1937 và được Tổng tham mưu trưởng Lục quân, Hoàng thân Kan’in truyền đi. Trong đó có nói bằng cách chi viện cho khu vụt Bâc Kinh – Thiên Tân, các khanh có thể sử dụng hơi cay trong thời điểm thích hợp. Một thánh chi thứ hai, ban ra ngày 11 tháng 9 năm 1937 và cũng được truyền đạt qua Hoàng thân Kan’in, cho phép triển khai tới Thượng Hải một số đơn vị chiến tranh hóa học đặc biệt. Các mệnh lệnh này đã cho phép ngay từ đâu, ban đâu chi là những thử nghiệm trên quy mô rất nhỏ nhưng cho đến mùa xuân và hè năm 1938 đã là việc sử dụng tràn lan khí độc trên các chiến trường chính ở Trung Quốc và Mông Cổ.
Từ khóa tìm kiếm nhiều:
nuoc nhat ban, nhật
hoàng


