Đối mặt với một cuộc chiến tranh bế tắc không có hy vọng chiến thắng trong trước mắt, các lãnh đạo Nhật vẫn cố tình theo lao như thể họ không thế chứ không phải không muốn thay đổi mục tiêu tối cao. Trong bối cảnh tổng động viên toàn quốc, kiểm duyệt báo chí ngày càng khắt khe và chi phí quân sự cao chua từng có, họ bắt đâu một loạt các động thái hòa hoãn. Họ quay sang khai thác cuộc xung đột giữa Quốc dân đảng Trung Quốc và những kè thù trong nước của phe này. Tuyên bố nổi tiếng của Thù tướng Konoe về một "Trật tự mới ở Đông Á" tháng 11 năm 1938 là bước đi đáng kể nhất trong số những sáng kiến này. Konoe bày tỏ hy vọng đạt được hòa bình ở Trung Quốc thông qua những kẻ thù của Tưởng Giới Thạch và lãnh tụ của chính phe cánh ông này trong Quốc dân đảng Uông Tinh Vệ. Kế hoạch bổ sung hành động quân sự bâng động thái chính trị này cum củng dẫn đến việc thành lập chế độ của Uông ở Nam Kinh vào cuối tháng 3 năm 1940 và việc ký kết Hiệp ước Sơ bộ Trung – Nhật vào tháng 11 năm 1940. Thế nhưng chính phủ Konoe không hề thật sự tin tưởng ờ Uông cũng như khả năng kết thúc chiến tranh của ông này và vì vậy đã trì hoãn việc công nhận chế độ của Uông, sau đó buộc ông phải trả lại cho Nhật trên hiệp ước một loạt những đặc quyền lớn về quân sự, kinh tế và chính trị, biến chính phủ của ông thành một chế độ bù nhìn không có một chút giá trị nào trong con mắt của hầu hết người dân Trung Quốc.
Nhưng dù cho có tập trung vào thỏa thuận trực tiếp với Tưởng Giới Thạch ở Trủng Khánh hay vào việc thiết lập một chính phủ giả tạo ở Nam Kinh thì hành động của Nhật Bản nhằm kết thúc chiến tranh rút cục cũng chi nhằm mục đích bành trướng, củng cố và hợp thức hóa những thành quả thu được từ chiến tranh mà thôi. Các "nhà thương thuyết hòa bình" của Nhật không hề có ý định đề ra một hạn chót cho việc quân Nhật rút khỏi miền bắc Trung Quốc chứ chưa nói gì đến việc buông tha quyền kiểm soát đối với quốc gia bù nhìn ở Mãn Châu quốc.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét